Câu hỏi: Trong quần thể của một loài thú, xét hai lộcut: locut một có 3 alen là ${{\text{A}}_{1}},{{\text{A}}_{2}},{{\text{A}}_{3}}$ locut hai có 2 alen là B và b. Cả hai locut đều nằm trên đoạn không tương đồng của NST giới tính X và các alen của hai locut này liên kết không hoàn toàn. Biết rằng không xảy ra đột biến, tính theo lí thuyết, số kiểu gen tối đa về hai locut trên trong quần thể này là:
A. 6
B. $27$
C. $42$
D. $21$
A. 6
B. $27$
C. $42$
D. $21$
Phương pháp:
Áp dụng công thức tính số kiểu gen tối đa trong quần thể (n là số alen)
Nếu gen nằm trên vùng không tương đồng NST giới tính X
+ giới $\text{XX}:\dfrac{n(n+1)}{2}$ kiểu gen hay $C_{n}^{2}+n$
+ giới XY : n kiểu gen
Nếu có nhiều gen trên 1 NST coi như 1 gen có số alen bằng tích số alen của các gen đó
Cách giải:
Cả hai locut đều nằm trên đoạn không tương đồng của NST giới tính X ta coi như 1 gen có $3\times 2=6$ alen.
Ở giới XX có : $\dfrac{6(6+1)}{2}=21\text{KG}$
Ở giới XY có: 6 kiểu gen.
Vậy số kiểu gen tối đa là $27.$
Áp dụng công thức tính số kiểu gen tối đa trong quần thể (n là số alen)
Nếu gen nằm trên vùng không tương đồng NST giới tính X
+ giới $\text{XX}:\dfrac{n(n+1)}{2}$ kiểu gen hay $C_{n}^{2}+n$
+ giới XY : n kiểu gen
Nếu có nhiều gen trên 1 NST coi như 1 gen có số alen bằng tích số alen của các gen đó
Cách giải:
Cả hai locut đều nằm trên đoạn không tương đồng của NST giới tính X ta coi như 1 gen có $3\times 2=6$ alen.
Ở giới XX có : $\dfrac{6(6+1)}{2}=21\text{KG}$
Ở giới XY có: 6 kiểu gen.
Vậy số kiểu gen tối đa là $27.$
Đáp án B.